Latest topics
» Hơn 3000 bài thơ tình Phạm Bá Chiểu
by phambachieu Yesterday at 6:53 pm

» Khoảng Cách /CN-HNT
by ChinhNguyen/H.N.T. Fri Dec 06, 2019 5:03 pm

» Truyện thơ cổ tích
by bounthanh sirimoungkhoune Sun Dec 01, 2019 8:16 am

» Ca dao
by bounthanh sirimoungkhoune Sun Dec 01, 2019 8:15 am

» Duyên Số Gặp Ma
by bounthanh sirimoungkhoune Sun Dec 01, 2019 8:14 am

» Lá rụng và đoá Vô-ưu/CN-HNT
by dangphuong Sat Nov 23, 2019 9:34 pm

» NỖI LÒNG MẸ CHA !
by hongphuc Thu Nov 21, 2019 3:49 pm

» CHIỀU RƠI
by hongphuc Thu Nov 21, 2019 3:47 pm

» Dòng sông đóng băng (thơ 4 câu dp)
by dangphuong Mon Nov 18, 2019 7:05 pm

» Hương thu (thơ ĐL dp)
by ChinhNguyen/H.N.T. Thu Nov 07, 2019 5:30 am

» Goc tho rieng=hoingo<>CN-HNT
by ChinhNguyen/H.N.T. Thu Nov 07, 2019 5:26 am

» Trang thơ ChinhNguyên/H.N.T.
by ChinhNguyen/H.N.T. Thu Nov 07, 2019 5:21 am

» LỄ CẦU CHO CÁC ĐẲNG LINH HỒN.
by hongphuc Mon Nov 04, 2019 11:02 pm

» Huyền thoại R2/ CN-H.N.T.
by ChinhNguyen/H.N.T. Thu Oct 24, 2019 11:15 pm

» ĐÔNG SANG
by hongphuc Wed Oct 23, 2019 2:49 pm

» TRỞ VỀ
by hongphuc Wed Oct 23, 2019 2:33 pm

» Tháng ngày cằn cỗi (thơ ĐL dp)
by ChinhNguyen/H.N.T. Sun Oct 20, 2019 4:38 am

» ÔI ĐÀN BÀ
by hongphuc Fri Oct 18, 2019 10:04 pm

» TÌM ĐÂU TIẾNG CẰN NHẰN...
by hongphuc Fri Oct 18, 2019 9:56 pm

» Cõi yêu ( ngũ thập liên hoàn trường họa )
by dangphuong Thu Oct 17, 2019 8:47 pm

» TRĂNG ĐÃ VỀ VỚI BIỂN
by hongphuc Wed Oct 16, 2019 9:52 am

» Tình khúc- Nguyễn Văn Thơ
by tuyenlinh47 Wed Oct 16, 2019 5:06 am

» Vàng thu
by lethi Tue Oct 08, 2019 8:23 am

» Giận
by lethi Mon Oct 07, 2019 10:27 am

» Tình ta như biển rộng/CN-HNT
by ChinhNguyen/H.N.T. Fri Sep 27, 2019 10:29 am

» 11/9 Hủy Diệt Tháp Đôi Khai Sinh Hội Ngộ
by mèo con Sat Sep 21, 2019 6:48 pm

» Mật khúc
by mèo con Sat Sep 21, 2019 6:47 pm

» Nghịch Cảnh
by mèo con Sat Sep 21, 2019 6:46 pm

» Con đường trong mưa (thơ 4 câu dp)
by dangphuong Mon Sep 16, 2019 12:40 am

» Ca dao xanh
by mèo con Wed Sep 11, 2019 11:41 pm

» Ước Thầm/CN-HNT
by mèo con Wed Sep 11, 2019 11:38 pm

» Trang Thơ Tuyền Linh
by tuyenlinh47 Sat Sep 07, 2019 9:49 am

» Thăm bạn lần thứ hai
by ChinhNguyen/H.N.T. Mon Sep 02, 2019 4:54 am

» CHẤP NHẬN
by ChinhNguyen/H.N.T. Fri Aug 30, 2019 4:07 am

» NỖI LÒNG MONG LŨ VỀ
by hongphuc Thu Aug 29, 2019 8:22 am

» Vũ khúc thời gian
by Hoàng Liên Sơn Wed Aug 28, 2019 9:48 pm

» Người lập trình cần có tâm thế ?
by thetvbytesoft2 Mon Aug 26, 2019 9:23 am

» ĐÊM ĐÔNG
by hongphuc Sat Aug 24, 2019 9:07 pm

» Tàn tạ (thơ ĐL dp)
by dangphuong Tue Aug 20, 2019 8:22 pm

» Nỗi Niềm Của Gió
by ChinhNguyen/H.N.T. Mon Aug 19, 2019 10:57 am

» Mảng rêu phong (thơ ĐL dp)
by Vàng Anh Tue Aug 13, 2019 11:31 pm

» Bao nhiêu mới đủ (thơ 4 câu-dp)
by Vàng Anh Tue Aug 13, 2019 11:24 pm

» ...Còn chi bên trời!
by TC Nguyễn Tue Aug 13, 2019 11:20 am

» Nói đi...- Tình thơ!
by TC Nguyễn Sun Aug 11, 2019 7:42 pm

» "Thật xấu hổ, thế nhưng tôi nghĩ Arsenal khó có khả năng để có cậu ấy"
by thuanvb86 Tue Aug 06, 2019 2:38 pm

» Tiểu Sử Tác Giả trên Dòng Thơ
by bounthanh sirimoungkhoune Sun Aug 04, 2019 12:30 pm

» Tập Thơ Mãi Mãi Yêu Em
by bounthanh sirimoungkhoune Sun Aug 04, 2019 11:34 am

» Tập Thơ Yêu Em Một Mình
by bounthanh sirimoungkhoune Sun Aug 04, 2019 11:22 am

» Nỗi Niềm
by lethi Fri Aug 02, 2019 8:54 am

» Hai vì-sao lạc/CN-HNT
by ChinhNguyen/H.N.T. Mon Jul 29, 2019 9:57 am

» ComeBackToSorrento1/CN-HNT
by ChinhNguyen/H.N.T. Wed Jul 24, 2019 9:25 am

» NGÕ NHỎ + LỀU CỎ (CN-HNT)
by dangphuong Mon Jul 15, 2019 5:32 pm

» Chiều mưa Orlando (thơ dp)
by ChinhNguyen/H.N.T. Fri Jul 12, 2019 3:51 pm

» Đi XKLĐ Nhật Bản năm 2019 có cần kinh nghiệm hay không?
by gach3d Thu Jul 11, 2019 9:32 am

» MOTHER'S DAY
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:23 pm

» HOA THÁ NĂM DÂNG MẸ
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:21 pm

» HEAVEN FIELD
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:19 pm

» ( Viết tặng người trong cuộc ) CHUYỆN XƯA.
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:17 pm

» HOA SÚNG TRẮNG
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:16 pm

» ( Viết cho tuổi Học Trò ) HẠ ..
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:15 pm

» HẠNH PHÚC
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:13 pm

» Viết cho tuổi Học Trò) PHƯỢNG BUỒN
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:12 pm

» ( Viết cho tuổi Học Trò ) THÁNG NĂM ..
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:10 pm

» VÀO HẠ
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:08 pm

» CÁNH PHƯỢNG HỒNG
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:07 pm

» ĐỜI HOA
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:04 pm

» TỰ DO
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:03 pm

» LỠ CHUYẾN TÀU PHÚ QUỐC -HÀ TIÊN
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 11:00 pm

» BẾN CŨ
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 10:59 pm

» TÂM TÌNH VỚI CHA
by hongphuc Tue Jul 09, 2019 10:57 pm

Quán VĂN -2 _ Song An Châu

Go down

Quán VĂN -2 _ Song An Châu Empty Quán VĂN -2 _ Song An Châu

Bài gửi by songanchau on Sun Dec 13, 2009 6:22 am

LỜI TÌNH TỰ CHO QUÊ HƯƠNG
Tùy bút : Song An Châu

Từ ngàn năm trước, đồng bào tôi như một rừng lao sậy sau cơn giông tố bão bùng, ngã rạp xuống; nhưng không khuất phục, không hèn hạ đã vùng lên đạp bằng sóng dậy, không sợ đầu rơi, máu chãy, banh thân vì lằn tên mũi đạn. Biết bao năm khổ ải dưới gót giày của kẻ ngoại xâm. Đoàn người đi trước ngã xuống, kẻ đi sau đứng vùng lên chóng chỏi với lằn tên mũi đạn, tù đày, gông xiềng, roi vọt …rồi cũng tháo gỡ được ách ngoại xâm tròng vào đầu, vào cổ đồng bào tôi.
Sau “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây”, những tưởng con cháu mang dòng giống Tiên Rồng đã mất gốc; nhưng đã vùng lên đánh đuổi kẻ ngoại xâm, nối nghiệp tiền nhân giữ nước và dựng nước đã làm rạng danh vùng đất nhỏ bé hình cong chữ S, bên bờ Thái Bình Dương, phía dưới cùng vùng đất bao la của kẻ một thời thống trị đã xanh tươi ruộng đồng, cây trái đơm bông, người người cười vui hạnh phúc.

Niềm mơ ước cháy bỏng này của đồng bào tôi sau khi cởi bỏ xiềng xích của kẻ ngoại bang là tạo dựng một quốc gia an bình, hạnh phúc, tự do cho toàn dân; nhưng đã phải chịu cảnh nồi da xáo thịt, hơn “hai mươi năm nội chiến từng ngày” . Bom đạn, súng óng, máy bay, xe tăng, tàu chiến của những đế quốc mang nhản hiệu: China, Russia, USA nhồi nhét vào tay dân tôi, bảo tụi mày cứ giết nhau đi để được Hòa Bình, Tự Do, Ấm No, Hạnh Phúc, Dân Chủ, Dân Quyền …
Nghe lời ngon ngọt rĩ rã bên tai, ngày qua tháng lại, dân tôi xìu lòng ôm lấy niềm đau sau hơn hai mươi năm đầu rơi máu chảy, thịt tan, xương nát … một phần đất, đảo và biển đã lọt vào tay kẻ bá quyền phương Bắc.

Mẹ Việt Nam chít khăn tang, mắt nhòa lệ khóc. Người thiếu phụ ôm con nhìn ảnh chồng trên bàn thờ khói hương nghi ngút. Đứa con thơ mất cha, người mẹ hiền buồn thương đứa con trai ra đi vĩnh viễn. Người tình bé bỏng hậu phương ngàn năm xa vắng người thương chết trận.

Tre già khóc măng. Người cha vừa nhận xác đứa con cả trong gói poncho hôi mùi tử khí từ chiến trường Quảng Trị đưa về. Đứa con kế theo đoàn quân giải tỏa chiến trường Huế bặt tin. Thằng cháu nội nghe đâu còn nằm điều trị tại bệnh viện Cộng Hòa, Sài Gòn. Tuổi già sức yếu ông không đi thăm cháu được.

- Hôm trước má nó đi thăm con về, nói với ông nội nó:
- Thằng Tý, nó cũng khỏe rồi Ba. Chắc nó phải nằm viện điều trị một thời gian nữa không lâu đâu Ba.
- Ờ! Chừng nào nó xuất viện con lên rước nó về.
- Con kẹt mấy đứa nhỏ, chắc con không đi được đâu Ba. Con có hỏi trên đó, họ nói có chuyến xe về miền Tây thì họ đưa nó về luôn.
Không sao đâu, Ba đừng lo.
- Vậy cũng được. Ờ! Nó bị sao đó con?
Cô con dâu rơm rớm nước mắt, im lặng đi vào nhà sau. Lời nói uất nghẹn ở cổ họng, không đáp lời ông già chồng được.

Trời nắng nóng. Ông Hai bê bình trà cũ kỹ và cái chung sành đít tròn mà trên hai mươi năm ông trân quý gìn giữ, di cư theo ông từ miền Bắc hồi năm Năm tư (1954). Ông đã bỏ làng xóm thân yêu, nhà cửa, ruộng vườn cùng hơn một triệu người khăn gói vào miền Nam theo tiếng gọi Tự Do.

Trời nóng. Ông cởi vài cái nút áo, phanh ngực áo ra, lấy cái quạt kè phe phẩy cho mát. Rót chung trà nhâm nhi, dựa lưng vào góc cây vú sữa, tàn lá che bóng mát rượi, trong sân nhà, ông lim dim ngủ.

- Ông nội! Khỏe không ông nội?

Ông Hai giật mình tỉnh giấc trong mơ…, nhỏm bật dậy, lấy tay dụi cặp mắt lờ, cố nhướng mắt nhìn người vừa hỏi đối diện:

- Đứa nào vậy ?
- Trời ơi! Ông không nhận ra cháu sao ông nội? Cháu là thằng cu Tý nè ông nội!
- Ờ …ờ, con thằng hai Mẩn hả?
- Dạ!

Ông Hai giương đôi mắt lờ lệch, chăm chăm nhìn thằng Tý từ đầu đến chân …
Bộ đồ lính còn mới, một bên óng quần chân trái xăn lên tận đầu gối …Nó vừa xuất viện từ bệnh viện Cộng Hòa về với đôi nạng gổ. Ngày mẹ nó sanh nó ra hai chân, bây giờ nó đi ba chân.

- Mầy đó hả Tý?.

Ông Hai hỏi, rồi ông òa lên khóc. Giọt nước mắt cuối cùng trong đời ông. Vì một phần vào tuổi trung niên khi bước xuống tàu di cư vào miền Nam ông đã để lại phân nửa trên quê hương mến yêu đất Bắc. Phần còn lại, tre khóc măng, dành cho thằng con cả ra đi vĩnh viễn hồi Tết Mậu Thân 1968. Giờ chỉ cho thằng cháu nội những giọt nước mắt cuối cùng trong đời, khi thấy nó về với hai nạng gổ …

Tý bỏ đôi nạng gổ, xà xuống ôm ông nội. Hai ông cháu ôm nhau, nước mắt ràn rụa, như đôi tình nhân lâu ngày mới gặp lại....

Nhìn góc cây vú sữa, Tý nhớ lại lúc còn nhỏ năm, sáu tuổi thường cùng ông nội, vào những buổi trưa hè ra đây hóng mát, nằm vào lòng ông nội, có nhiều lần ngủ thiếp đi, đến khi ông nội lay dậy vào nhà ăn cơm chiều ....

Song An Châu
GA, chiều đông đất khách 2009


Được sửa bởi songanchau ngày Wed Dec 16, 2009 10:13 am; sửa lần 5.
songanchau
songanchau

Tổng số bài gửi : 321
Join date : 30/09/2009

Về Đầu Trang Go down

Quán VĂN -2 _ Song An Châu Empty Re: Quán VĂN -2 _ Song An Châu

Bài gửi by TRUNG on Sun Dec 13, 2009 6:29 am

anh SAC viết truyện hay ghê. Quê hương mình thì biết bao buồn vui, anh nhỉ!
Quán VĂN -2 _ Song An Châu 99480 Quán VĂN -2 _ Song An Châu 433349 Quán VĂN -2 _ Song An Châu 672535
TRUNG
TRUNG

Tổng số bài gửi : 3660
Join date : 14/10/2009

Về Đầu Trang Go down

Quán VĂN -2 _ Song An Châu Empty Re: Quán VĂN -2 _ Song An Châu

Bài gửi by songanchau on Sun Dec 13, 2009 6:57 am

TRUNG đã viết:anh SAC viết truyện hay ghê. Quê hương mình thì biết bao buồn vui, anh nhỉ!
Quán VĂN -2 _ Song An Châu 99480 Quán VĂN -2 _ Song An Châu 433349 Quán VĂN -2 _ Song An Châu 672535

Cám ơn lời khen tặng của bạn TRUNG Quán VĂN -2 _ Song An Châu 508764 . Đây chỉ là những ý nghĩ nhỏ nhoi của tôi thôi - nghĩ sao nói vậy người ơi ! Mình sợ là hèn, nếu mình nghĩ mà không dám nói ra .

Nếu bạn có thì giờ, xin mời bạn vào căn nhà cũa tôi mới xây còn đơn sơ, xin bạn tiếp tay tô điểm thêm cho đẹp :
Địa chỉ nhà mới của tôi: http://chantroitim.forum-viet.net
Chúc bạn an lành.
Quán VĂN -2 _ Song An Châu 227433
SAC
songanchau
songanchau

Tổng số bài gửi : 321
Join date : 30/09/2009

Về Đầu Trang Go down

Quán VĂN -2 _ Song An Châu Empty Re: Quán VĂN -2 _ Song An Châu

Bài gửi by songanchau on Wed Dec 16, 2009 10:07 am

THẦY TÔI
Tùy bút : Song An Châu
* Kính dâng hương hồn thầy tôi, người thầy xa xưa dạy tại trường Tiểu Học
Quận An Phú, Châu Đốc (1950-1952)

Hơn bốn mươi năm qua rồi, nhưng hình ảnh cái chết và cuộc đời khổ hạnh của thầy tôi luôn luôn ám ảnh trong trí tôi. Suốt một đời thầy đã hy sinh vì lý tưởng cao cả và rồi chết âm thầm trong đau khổ, không người đưa tiễn đến nơi an nghỉ cuối cùng. Sự bất hạnh lớn lao này của thầy tôi đã in đậm vào tuổi thơ tôi bằng một vết hằn sâu không bao giờ phai nhòa trong ký ức.
Đã từ lâu rồi, tôi muốn ghi lại nỗi niềm uất tủi này trên giấy, trước để giải tỏa sự tù ngục mà tôi đã âm thần ôm dấu và sau để cùng các bạn tôi đốt lên nén hương lòng tưởng niệm lại hình ảnh người thầy xưa.

Hơn bốn mươi năm qua rồi. Thời trẻ, tôi đã bao lần thất bại trên đường khoa cử, cũng như bị vấp ngã liên miên trên đường đời. Sự thất bại song phương này đã cấu kết thành một nỗi buồn miên man, một ý thức nhờm chán ở tôi. Tôi e dè, tự ti trước mọi việc và thường để “cho qua đi” những sự việc gì không còn ảnh hưởng đến tôi; nhưng hình ảnh cái chết của thầy tôi cứ dằng dặc, ray rức ở trong lòng tôi mãi, nhất là vào những mùa thi hay mùa hè hoa phượng nở.
Hôm nay, những cành phượng đã nở đỏ thắm bên sân trường, mùa thi sắp đến, hình ảnh người thầy cũ lại hiện về trong trí tôi và tôi nhất quyết lấy giấy bút ra để ghi lại hình ảnh và cuộc đời của thầy tôi còn chan chứa trong ký ức tôi.

Vì ở trong làng quê, nên tôi đi học trễ. Năm mười tuổi, tôi mới học xong lớp ba trường làng, được chuyển đến trường Quận học lớp Nhì. Ngôi trường bằng lá ba gian rộng rải, vừa được cất xong trên khu đất cao ráo, phía trước có sân rộng, ẩn mình dưới tàn cây dịu mát, đã sớm thu hút cậu học trò trường làng quê như tôi mới ra Quận lần đầu; nhưng tôi không khỏi e dè trước thầy mới, bạn mới, trường lạ.
Ngày đầu tiên, tôi được cha tôi dẫn vào một lớp học có chừng ba mươi học sinh trạc tuổi tôi, tôi vừa bước vào lớp với dáng dấp e ngại, với những cái nhìn chăm chọc vào tôi, qua ánh mắt của các bạn trong lớp.
Cha tôi dẫn tôi đến trước một thầy giáo tuổi chừng ba mươi lăm, ba mươi sáu, giới thiệu cho tôi vào lớp. Tôi không dám ngẩng đầu lên nhìn người thầy mới và tôi đã quên đi ngày hôm đó cha tôi nói gì với thầy. Một lát, tôi được thầy xếp ngồi vào bàn thứ hai, gần một đứa bạn cùng xóm.

Cha tôi về, tôi ngồi im và thỉnh thoảng lật qua, lật lại những trang giấy nguyên trinh còn thơm phức mùi giấy mới, với những ý nghĩ không đâu của bản năng tự nhiên.
Bổng một giọng trầm trầm từ trên đầu lớp đưa xuống: “Các em, hôm nay là ngày khai trường cho niên học mới, các em đến đây cầu học, anh nguyện sẽ đem hết năng lực chỉ dạy các em …”
Tôi ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh mắt hiền từ, trên khuôn mặt gầy, hơi xanh xao của thầy, trìu mến nhìn những mái đầu xanh với vẻ hiền dịu của người mẹ dạy dỗ con thơ.
Thầy tiếp tục nói chuyện, giọng nói đầy trầm buồn, nhưng không kém phần linh hoạt và trôi chảy. Điều tôi ngạc nhiên trong buổi học đầu tiên hôm ấy là thầy lấy tư cách một người anh dạy bảo các em và thầy bắt chúng tôi gọi thầy bằng : “ Anh - Anh giáo ”, dù thầy đáng tuổi cha chú chúng tôi. Thoạt tiên chúng tôi còn ngượng ngùng trước sự xưng hô này. Nhưng sự thân mật của thầy làm chúng tôi càng ngày càng mến thầy thêm.

Tiếng “Thầy” được thay thế bằng tiếng “Anh”, nghe nó thân mật như tình anh em ruột thịt, cho nên chúng tôi không thấy sự ngăn cách và sợ sệt như sợ cái “uy quyền” của các ông giáo già khó tính ở trường làng. Tuy nhiên, chúng tôi không dựa vào sự dễ dãi đó mà quên đi phần kính trọng thầy.
Nhờ sự chỉ bảo tận tâm của thầy, việc học hành của chúng tôi càng ngày càng tiến bộ. Bất kỳ lúc nào, ngoài giờ học ở trường. Chúng tôi có thể lại nhà thầy, ngày cũng như đêm, cũng có thể hỏi bài nơi nhà thầy, đều được thầy chỉ bảo tận tình.
Với bầu không khí thân mật đó, năm học trôi qua đi rất nhanh. Thắm thoát đã gần đến ngày thi. Vì sự tận tâm và thương yêu chúng tôi, thầy tuyển chọn trong lớp năm đứa xuất sắc – trong số đó có tôi – để chỉ bảo riêng thêm ở nhà, ngoài giờ học thường lệ ở trường, hầu cho chúng tôi gặt hái được kết quả tốt ngày ra trường Tỉnh thi lên lớp Nhất*.

Bộ năm chúng tôi: Phùng, Khôi, Long, Kháng và tôi, được thầy tận tâm chỉ bảo ngày đêm nơi nhà thầy. Ngoài số tiền lương eo hẹp hàng tháng của thầy, thầy không nhận thêm của chúng tôi một số tiền nhỏ mọn nào cả.
Những ngày sống gần thầy, tôi mới nhận thấy sự hy sinh cao cả của người, cũng như lòng mến yêu đầy nhiệt tâm của người đối với thiên chức và chúng tôi.
Bây giờ, sau hơn bốn mươi năm rời mái học đường cuối cùng, bước chân vào đời, lăn lộn tìm kế sinh nhai, vươn lên trong cuộc sống, chạm trán với nhiều điều thực tế đắng cay. Tôi chưa lần nào tìm thấy tình thương yêu đồng loại đơn thuần và thiêng liêng như tình thương của thầy đối với chúng tôi.
Ôi ! Thời thơ ấu đẹp đẽ đã qua rồi, qua rồi…nay còn đâu ?!
***
Vì sự tận tâm dạy bảo chúng tôi, sức khoẻ của thầy càng ngày càng kém, thân hình thầy gầy hơn trước, da vẻ xanh xao. Bệnh thổ huyết trở lại tàn phá cơ thể của thầy. Chúng tôi thấy thầy yếu sức và bệnh hoạn, nên ngỏ ý xin thầy tạm nghỉ học thêm ngoài các buổi học chính thức, để về nhà tự học; nhưng thầy ngăn lại và dạy chúng tôi đến cận kề ngày thi.
Mùa thi năm ấy, năm anh em chúng tôi lên đường ra Tỉnh lỵ Châu Đốc thi lên lớp Nhất, năm 1952. Vì cơn bịnh bất ngờ trở nặng, nên thầy nhờ anh giáo Trạng, dạy cùng trường dẫn dắt năm anh em chúng tôi lên Tỉnh dự thi.

Buổi sáng, khi tiễn chân chúng tôi lên đường dự thi, thầy nắm tay từng đứa một khuyên nhủ với ánh mắt hiền từ rưng rưng lệ. Không ngờ buổi ra đi nầy lại là buổi từ biệt vĩnh viễn thầy tôi.
Sau ngày thi xong trở về, chúng tôi được tin. Vào giữa ngày thi, bịnh tình thầy tôi trở phát dữ dội. Vì không được chăm sóc, cũng như không được chữa trị đúng phương pháp, hơn nữa ở một Quận hẻo lánh nơi miền biên giới Việt-Miên, thiếu thuốc men trị liệu. Thầy tôi đã thở hơi cuối cùng trong gian nhà vắng không một bóng học trò thân yêu.Trong giờ phút cuối cùng thầy tôi còn trối trăn lại. Nghĩ đến tương lai chúng tôi và sợ làm trở ngại cuộc thi, thầy ân cần bảo người nhà đừng thông báo hung tin cho chúng tôi hay sớm nếu thầy có chết.
Sau cuộc thi, năm anh em chúng tôi đều đỗ cao cả. Ngày vinh qui của chúng tôi trở về tạ ơn người thầy kính mến, thì thân người đã vùi sâu dưới ba tất đất …
Một nấm mồ, năm mái đầu xanh chụm nhau bùi ngùi cảm động, niềm đau chất ngất, không nói nên lời, từng giọt lệ lăn dài trên má …

Sau này, tôi được nghe thầy Bén và thầy Trạng là hai thầy giáo kỳ cựu dạy cùng trường Tiểu học Quận An Phú (Châu Đốc) và thân quen với thầy tôi thuật lại. Thầy là một đảng viên nòng cốt và giữ vai trò quan trọng của đảng cách mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng, một đảng phái yêu nước chống Pháp nổi tiếng vào thời đó (thập niên 50). Thầy và một số đồng chí bị mật thám Pháp theo dõi, lùng bắt, nên đổi vùng hoạt động từ miền Trung vào miền Nam lánh nạn.
***
Không biết có sự sắp đặt tự nhiên hay vô hình nào. Vài năm sau đó, có bốn bạn tôi sau khi tốt nghiệp lớp Sư Phạm cấp tốc một năm, đã trở về dưới mái trường xưa nối nghiệp người thầy cũ. Với đám học trò mới, các bạn có nghĩ đến thời thơ ấu của chúng mình hay không ?
Còn tôi đã mấy lần dợm bước chân vào giáo giới, nhưng đều không thành, hay là có sự ngăn cản thiêng liên nào của người khuất mặt không muốn cho tôi vào con đường đau khổ, nhưng đầy tình thương yêu nầy!.

Bên ngoài ánh nắng vàng mùa hạ lên cao, mùa thi sắp đến. Những cánh phượng màu đỏ thắm rời cành bay vèo trong làn gió làm tôi nhớ lại mùa thi năm ấy. Hình ảnh người thầy cũ lại hiện về rõ rệt trong ký ức tôi…
Hôm nay, tôi mãn nguyện là đã ghi lại trọn vẹn câu chuyện hơn bốn mươi năm qua ẩn dấu trong lòng tôi, chưa có dịp bộc lộ bằng những dòng chữ trên trang giấy, như ý tôi mong muốn từ lâu …

SONG AN CHÂU
(Mùa hoa phượng nở 1995))
--------------------------------------------------------------------------------------------------
* Chú thích : Lớp Nhì ( Lớp 4), Lớp Nhất (Lớp 5 bây giờ).
Thời thập niên 50 (1950) về trước, học sinh Tiểu học phải qua một kỳ thi lên lớp.
songanchau
songanchau

Tổng số bài gửi : 321
Join date : 30/09/2009

Về Đầu Trang Go down

Quán VĂN -2 _ Song An Châu Empty Re: Quán VĂN -2 _ Song An Châu

Bài gửi by Ra on Thu Dec 17, 2009 8:58 am

Kỷ niệm của anh Châu hay ghê, đọc rất cảm động... Quán VĂN -2 _ Song An Châu 600893

Ra

Tổng số bài gửi : 1901
Join date : 08/10/2009
Đến từ : ...nơi ấy

Về Đầu Trang Go down

Quán VĂN -2 _ Song An Châu Empty Re: Quán VĂN -2 _ Song An Châu

Bài gửi by songanchau on Sun Dec 20, 2009 6:12 am

Jason Le đã viết:Kỷ niệm của anh Châu hay ghê, đọc rất cảm động... Quán VĂN -2 _ Song An Châu 600893

Mấy hôm nay tôi bận, không vào DĐHN đề chào anh. Cám ơn anh có lời khen bài viết này của tôi lâu rồi. Nhân dịp có một vài bạn bè cũ nhắc đến người thầy xưa, nên tôi post lên để nhớ ơn người thầy cũ.

Chúc anh mùa Giáng Sinh an lành và đầy ơn phước Chúa ban cho.

SAC
Quán VĂN -2 _ Song An Châu 508764 Quán VĂN -2 _ Song An Châu 61969
songanchau
songanchau

Tổng số bài gửi : 321
Join date : 30/09/2009

Về Đầu Trang Go down

Quán VĂN -2 _ Song An Châu Empty Re: Quán VĂN -2 _ Song An Châu

Bài gửi by songanchau on Thu Dec 31, 2009 10:37 pm


MỘT THỜI NIÊN THIẾU
* Tùy bút : Song An Châu


Tôi sanh ra và lớn lên tại một làng quê ven bờ sông Hậu. Làng Đa Phước, Châu Đốc. Làng này nằm trên một cù lao giữa lòng sông Hậu, chia đôi dòng nước bắt đầu từ nước láng giềng Kampuchia. Cù lao này rất lớn, bao gồm nhiều xã, nếu kể từ biên giới Việt-Miên (Kampuchia), từ quận Kandal, tỉnh Svayrieng, gồm thứ tự từ trên xuống có các Xã Khánh Bình, Khánh An, Phước Hưng và Đa Phước. Cuối cùng cù lao là dãy đất bồi Cồn Tiên thuộc xã Đa Phước có bến đò nhộn nhịp người, xe cộ qua lại thị xã Châu Phú, Châu Đốc.
Tôi là đứa bé nhà quê lớn lên tại một làng quê bình thường, hơn 80 phần trăm là nông dân sống với nghề ruộng rẫy, số còn lại là thương buôn nhỏ, hoặc hành nghề có tánh cách gia đình như thợ mộc, thợ nề, giăng câu, chài lưới tùy theo mùa hay rảnh việc đồng áng.
Quê tôi cũng như phần lớn làng quê miền Nam Việt Nam, không giàu có sung túc gì cho lắm, vì nông dân còn canh tác với tánh cách cổ xưa, do ông bà truyền lại, chưa được cơ giới hóa trong thời tôi còn là một đứa bé năm, sáu tuổi, cách đây cũng hơn 60 năm rồi (năm 1945, 1946). Sau này mới chỉ cơ giới hóa một phần trong khâu cày bừa, suốt lúa ra hột, chớ chưa dùng máy móc toàn diện như các nước tân tiến hiện thời.
Cha tôi được bên nội chia phần cùng các chú, bác, cô, dượng được hơn một mẫu đất tại Ấp Phước Thọ, làng Đa Phước. Tuy thuộc gia đình nông dân, nhưng cha mẹ tôi không theo nghề ruộng rẫy. Sau khi lập gia đình, cha mẹ tôi sống chung với chú bác cô dượng, trong một đại gia đình, theo phong tục cổ xưa, tam tứ đại đồng đường, cùng làm chung ăn chung. Nhận thấy cuộc sống chung đụng như thế không thể phát triển gia đình, nuôi dưỡng con cái sau này hoàn hảo được và thường có chuyện xích mích, tranh chấp giữa các chị em bạn dâu với nhau, tạo nên cảnh bất hòa giữa anh em ruột thịt trong gia đình. Vì thế cha mẹ tôi bồng chống về sống bên ngoại tôi ở ấp Phước Quản, cùng làng Đa Phước, ngang thị xã Châu Đốc, cách nơi ở cũ khoảng năm cây số.
Bên ngoại tôi sống nghề thương buôn, có một chiếc ghe trọng tải khoảng năm, sáu tấn, mua bán hàng hóa, nông sản, cá khô hai chiều, từ Châu Đốc qua Nam Vang, Cao Miên. Ba mẹ tôi theo ghe buôn bán, quản lý hàng hóa và tính sổ sách, có mướn hai người bạn (người làm công) chèo ghe, cà rịch cà tang ( thời gian này chưa có máy móc cho ghe, tàu) , từ Châu Đốc qua Nam Vang, ngược dòng sông Hậu đến Biển Hồ, cũng mất ba, bốn ngày đường. Mua bán xong, quay về Châu Đốc. Cha mẹ tôi cứ tiếp tục vòng quay này theo tháng ngày, đến khi chị em tôi khôn lớn.
Việc buôn bán của cha mẹ tôi ngày càng sa sút, không đuợc thuận lợi như lúc trước và chị em tôi càng ngày nẩy nở, tăng thêm “ nhân khẩu” và vì xa nhà buôn bán không ai săn sóc con cái, nên cha mẹ tôi tính đường thối lui về nội để sanh sống, nương tựa vào anh em và hơn chục công ruộng từ lâu đã cho mướn.
Việc”thắng về nội, thối về ngoại” này của cha mẹ tôi, trên bước đường di cư, đổi chỗ ở cũng ảnh hưởng đến việc học hành của tôi thời trẻ.
Sau khi mua một mảnh đất cất nhà, gần nhà ông nội tôi, tạm ổn việc ăn ở. Cha mẹ tôi lo phần ruộng rẫy và để tăng phần thu nhập cho gia đình, ông bà đã mở một gian hàng bán tạp hóa nhỏ trước nhà, để hai người chị lớn của tôi trông coi.
Sở dĩ tôi dài dòng văn tự như trên vì khi tôi lớn lên, cha mẹ, các chị tôi (tôi không có anh - ,tôi là tai lớn trong gia đình) bận lo sinh kế hàng ngày, nên việc học hành, chăm sóc con em . Phần lớn những gia đình trong làng quê thời đó, cũng như gia đình tôi việc chăm sóc dạy dỗ con, em không được chu đáo, chặt chẽ cho lắm. Vì thế khi tôi lớn lên, biết tự sinh hoạt thì chỉ ham chơi hơn ham học, hàng ngày theo lớp trẻ con cùng lứa năm, sáu tuổi ra đồng vớt cá lia thia, bắt dế về hợp nhau cho đá xem chơi, hoặc theo các cậu bé chăn trâu, giữ bò lớn hơn, đi gài bẩy cò, đuổi bắt chim, bắn nạng dàn thun.
Đến 6 tuổi, tôi mới được cấp sách đến trường học vỡ lòng. Nói là trường, thật ra đó là một bên chái đình làng, thường dùng để quý vị hương chức hội tề, quan khách yến tiệc mỗi khi cúng đình, lễ hội, được biến thành trường học, tróng trơn, không vách ngăn, không cửa nẻo chi cả. Lớp học thì kê một số bàn gỗ sơ sài mà các viên chức trong làng huy động thợ mộc, dân trong làng thực hiện không trả tiền công. Trường có ba lớp: lớp năm, lớp tư và lớp ba (lớp một, hai, ba bây giờ). Mỗi lớp học một dãy bàn. Thiếu giáo viên, thầy dạy tôi lớp năm kiêm luôn lớp tư và một thầy nữa phụ trách lớp ba. Cùng học chung trong một gian nhà, không ngăn vách, nên lớp học luôn luôn ồn ào với đám trẻ liếng thoắng, thường hay trửng giởn trong lớp. Do đó, những tiếng “cốp cốp, cạch cạch” thường vang lên từ đầu lớp học, bởi chiếc thước bảng mà hai thầy gõ lên bàn, để bảo đám học trò choi choi, khó dạy chúng tôi, kèm theo hai tiếng “ im lặng, im lặng” của hai thầy !.
Qua ba năm học hết lớp ở trường làng, cha mẹ tôi mang tôi lên học trường Quận, tại quận An Phú (Châu Đốc), một quận giáp ranh với biên giới Việt-Miên vừa đươc thành lập, sau hiệp định Geneve 1954, chia đôi đất nước. (Sau khi học xong trung học, tôi về đây giữ chân Thơ ký Quận vào giữa năm 1960 đến tháng 4 năm 1965). Cha mẹ tôi cũng đã dời địa điểm buôn bán từ làng quê lên quận này. Học xong lớp Nhì ( lớp 4 bây giờ) trường quận, cũng hết lớp nơi đây. Tôi được cha mẹ tôi cho tiếp tục học lớp Nhất (lớp 5) trường nam Tỉnh lỵ Châu Đốc, vào năm 1952.
Thời gian trôi qua rất mau, như bóng câu qua cửa, như vừa giật mình thức dậy, sau giấc mộng kê vàng. Tôi không bao giờ quên được những bước chân đầu đời của cậu bé nhà quê lên Tỉnh. Đi chân đất, còn lấm phèn, mùi ruộng đồng còn vương vấn ở làn da, tấm áo. Ngày đầu tiên vào lớp, bạn bè cùng lớp chưa quen, nhìn nhau ngơ ngát. Ông thầy ít nói, hơi nghiêm nghị, dáng dẽ gầy gầy, là hình ảnh đầu tiên khi tôi bước vào lớp học trường tỉnh. Ngày đầu tiên, còn ghi khắc sâu đậm trong tâm tư tôi. Đến nay đã hơn 50 năm qua rồi mà chưa phai nhòa trong ký ức. Đó là thầy Châu văn Tính, có đứa con trai là Châu minh Kiến học cùng lớp Nhất với tôi năm đó, sau này Kiến là một sĩ quan, một anh hùng của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu đối đầu với những người bên kia chiến tuyến, trước năm 1975.
Sau 6 năm (1954-1960) miệt mài trên khung ghế nhà trường trung học THỦ KHOA NGHĨA, Châu Đốc, tôi đã có biết bao kỷ niệm giữa tình bạn bè, thầy trò, trường lớp. Đã hơn 45 năm qua rồi, biết bao thăng trầm trong cuộc sống, biết bao thay đổi từ vật chất đến tâm hồn con người. Hôm nay đây, giữa đất trời xa lạ, biền biệt xa cách quê hương vạn dậm, ngồi ôn lại những kỷ niệm xa vời còn sót lại trong đáy lòng, với niềm nuối tiếc không nguôi. Những hình ảnh thân thương của tuổi học trò áo trắng, chưa vướng bụi trần, lần lượt ẩn hiện, nhạt nhòa như cuồn phim cất trong kho lâu ngày, giữ làm tư liệu, nay đem ra trình chiếu lại, để tìm dấu viết một chuyện đời đã qua, giờ đã phai mờ, cái còn cái mất.
Những kỷ niệm thời trung học, còn lưu dấu trong đáy lòng tôi, nhớ đâu tôi nói đó, không theo thứ tự thời gian, tràn lan như nước vỡ bờ trên vùng đất thân thương của tuổi vàng, thời niên thiếu mới vừa chớm yêu, dạt dào tình cảm trước vầng thái dương của cuộc đời, nhìn đâu cũng chan hòa ánh sáng.
Tình bạn cũng sớm nẩy nở giữa tôi với các bạn cùng lớp, chung trường. Tôi và anh bạn Đinh văn Mỹ kết giao thân thiện như anh em một nhà, từ những ngày đầu bước chân vào trường trung học Thủ Khoa Nghĩa. Tôi cũng thường đến nhà bạn Mỹ tụ tập anh em đàn ca, xướng hát những bản nhạc thịnh hành thời đó như: Gạo trắng trăng thanh, Trăng rụng xuống cầu, Thuyền trăng v.v….rất tưng bừng, vui nhộn. Những ngày nghỉ lễ hay thứ bảy, chúa nhật, anh em kéo nhau đi vườn nhản Mỹ Đức hay đi chơi viếng cảnh núi Sam, núi Tô, núi Két vùng thất sơn, thật ấm tình bè bạn.
Cha mẹ bạn Mỹ cũng thương tôi như con trong gia đình. Tôi thường ăn ngũ tại nhà bạn Mỹ. Cha của bạn Mỹ là Ông Đinh văn Tầm, tài xế Ty Công Chánh, Châu Đốc. Sau này, khi bạn Mỹ rời trường, đi làm giáo viên và là Hiệu Trưởng một trường tiểu học ở Xã Bình Mỹ (Châu Phú, Châu Đốc). Mỹ đã về bên kia thế giới vào lúc tuổi đời còn xanh, để lại vợ và hai đứa con thơ. Bạn Mỹ chết vì bịnh trước năm 1975, khi cuộc chiến chưa tàn.
Thời niên thiếu vừa bước qua ngưởng cửa tuổi thơ, ai cũng có nhiều mơ mộng, nhìn đời qua ánh sáng hào quang trước mặt. Sau hiệp định Geneve chia đôi đất nước năm 1954, miền Nam Việt Nam có thể nói là nhân dân sống trong thanh bình, yên ổn. Nhất là đám thanh niên mới lớn chúng tôi còn sống trong cái nôi ấm cúng và được sự bảo bộc của gia đình. Hằng ngày chỉ tung tăng cấp sách đến trường, không lo gì ngoài chuyện học hành. Vì thế chúng tôi có nhiều cao vọng, nhiều mộng đẹp cho cuộc sống tương lai. Đứa thì nói, tao học xong trung học, sẽ học tiếp để trở thành bác sĩ, kỷ sư, nhà khoa học, vài đứa khác nói tao sẽ vào học trường Quốc Gia Hành Chánh hay trường đào tạo sĩ quan Võ Bị Đà Lạt hay Thủ Đức, sau này giữ chức vụ then chốt trong chánh quyền hay quân đội.
Anh em chúng tôi chưa nghĩ gì đến tương lai, nên không có cao vọng vừa kể trên, nên họp lại thành một nhóm tập tành viết văn, làm thơ. Bất kỳ trong thể chế nào, quân chủ hay dân chủ tự do, khi đất nước thanh bình, người dân sống trong cảnh hoan lạc, no ấm thì văn hóa, văn chương của quốc gia đó, luôn luôn được phát triển, vươn cao. Được sự hấp thụ qua những dòng văn thơ tuyệt tác của các bậc tiền bối như : Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Đoàn thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Ôn Như Hầu, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu và những nhà văn, nhà thơ cận đại của nhóm Tự Lực Văn Đàn và của Phan Bội Châu, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Tế Xương, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử v.v …, qua những bài học trong trường, những sách vở, báo chí ngoài đời đã thôi thúc chúng tôi muốn trở thành những nhà thơ, nhà văn. .
Vì thế chúng tôi đã họp nhau từng nhóm trong trường thành lập các nhóm văn nghệ. Vào thời đó, khoảng cuối thập niên 50 (1955-1960), tình hình đất nước yên ổn, nên trên phương diện văn chương, báo chí phát triển rất mạnh. Ảnh hưởng qua những bài học văn chương trong trường, những sách báo ngoài đời. Với tâm hồn mơ mộng dat dào, anh em cùng trang lứa chúng tôi tập tành viết những bài tùy bút, truyện ngắn, những bài thơ thổn thức tình yêu vừa chớm dậy, truyền tay nhau xem hay gởi đến những tờ báo xuất bản riêng cho lứa tổi học trò ở Sài Gòn. Nhiều anh em rất vui mừng khi những tác phẩm đầu đời của mình được đăng trên báo. Rồi thích thú, quen dần trong việc viết lách, anh em cùng chí hướng họp nhau thành lập nhóm văn nghệ, văn đàn, thi văn đàn.
Tôi còn nhớ lúc đó, anh em chúng tôi đang học lớp Đệ Tứ (lớp 9 bây giờ) niên khóa 1956-1957, của trường Trung Học THỦ KHOA NGHĨA, Châu Đốc, đến giờ Việt văn của thầy Lưu Trung Khảo (hiện nay định cư ở California), anh em chúng tôi luôn im lặng, chăm chú nghe những bài giảng về kim văn, cổ văn của thầy một cách say mê.
Vào khoảng năm đó, anh em thích văn nghệ chúng tôi, gồm các bạn cùng lớp, cùng trường có liên hệ thơ văn với nhau thành lập một Thi Văn Đàn lấy tên THẾ KỶ, gồm có các bạn : Nguyễn Hải Thệ bút hiệu Huyền Dân sau đổi là Ngy Do Thái, Dương Ngọc Ánh bút hiệu Hàn Thanh, Nguyễn thị Điển bút hiệu Mai Thanh Tuyền, Trương Bá Trạc bút hiệu Mặc Lan Hoài, Nguyễn thị Bé Tám (?) bút hiệu Phương Mai, Lệ thùy Lam và tôi Phan Ngọc Châu bút hiệu Song An Châu. Một số anh chị em này đang định cư ở Hoa Kỳ và cũng tiếp tục làm thơ, viết văn, làm báo. Cái nghiệp mê văn chương luôn đeo đẳng vào thân !.
Sau này, một vài anh em cùng trường như: Ngô Nguyên Nghiễm (Ngô Tấn Thiền), Thương Hoài Diệp (Phạm Yến Anh), Nhất Thắng (Nguyễn Minh Thanh), Hoài Ziang Duy (Thái sanh Lợi), Đỗ Kim Bảng…cùng họp tác với chúng tôi thực hiện những tờ bích báo, đặc san Xuân cho trường hay những giai phẩm, đặc san của nhóm bỏ tiền túi ra ấn hành, rồi đem đi giới thiệu (bán) các trường bạn như Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên), Phan Thanh Giản (Cần Thơ), Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long), Tống Phước Hòa (Sa Đéc)….
Nghĩ lại, thời gian này trong tuổi thanh xuân, cuộc đời chưa vướng bụi trần, tâm hồn thơ thới, yêu đời, nay thì đã quá xa xôi mà lòng luôn luyến tiếc.
Hôm nay, nơi đất khách quê người, vì nạn trời ách nước, phải lìa xa quê hương yêu dấu, ngàn dặm xa xăm, hình ảnh mẹ già lưng còng, gối mõi, tay rung, tóc bạc, con sông, dòng nước Hậu giang đục màu phù sa, bến đò xưa đưa khách, hàng ngày tôi và các bạn ôm cặp xuống đò qua bên kia sông đến trường học tập, nay đã đi vào dĩ vãng, nhưng vẫn còn nhớ thương, nuối tiếc.
Sau hơn năm mươi năm dài đăng đẳng, nay còn đâu những hình ảnh thân thương của trường xưa, bạn cũ, thời niên thiếu đã đi qua. Cát bụi thời gian đã xóa mờ trong ký ức. Trường xưa đã đổi chỗ, bạn bè tha phương tứ xứ, có nhiều đứa ra đi, hóa ra người thiên cổ, kẻ ở lại, còn đây không khỏi ngậm ngùi nhớ tiếc những hình ảnh êm đềm, đẹp đẽ ngày xưa mà lòng đau, dạ xót không nguôi …..
Song An Châu
Mùa Đông tha phương 2009
songanchau
songanchau

Tổng số bài gửi : 321
Join date : 30/09/2009

Về Đầu Trang Go down

Quán VĂN -2 _ Song An Châu Empty Re: Quán VĂN -2 _ Song An Châu

Bài gửi by HT on Thu Dec 31, 2009 11:08 pm

Xin SCA anh cho đọc tiếp những bài viết khác nữa của anh nhé ! Quán VĂN -2 _ Song An Châu 508764

HT

Tổng số bài gửi : 145
Join date : 01/12/2009

Về Đầu Trang Go down

Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết